Tam chứng cushing trong tăng áp lực nội sọ

Phản ứng Cushing phản ánh những thay đổi mà cơ thể phải trải qua khi áp lực nội sọ tăng lên. Tam chứng Cushing bao gồm ba triệu chứng huyết áp tăng, nhịp tim chậm và ngưng thở. Bác sĩ Harvey Cushing là người đã sử dụng phương pháp đo huyết áp để theo dõi tình trạng bệnh nhân trong các tiến trình phẫu thuật thần kinh.

Các triệu chứng trong tam chứng cushing

Cushing phát hiện ra rằng phản ứng ban đầu của cơ thể khi xuất hiện áp lực nội sọ tăng là huyết áp tâm thu tăng. Huyết áp tâm thu tăng dẫn đến áp lực mạch (hiệu áp) lớn hơn, nhịp tim chậm và nhịp thở không đều. Khi áp lực nội sọ tiếp tục tăng, nhịp tim của bệnh nhân sẽ tăng lên, nhịp thở trở nên nông dần, xảy ra tình trạng ngưng thở và huyết áp bắt đầu giảm. Cuối cùng, sẽ xuất hiện các dấu hiệu hấp hối khi thoát vị bắt đầu, ngay sau đó thân não sẽ ngừng hoạt động, bệnh nhân ngừng hô hấp và tim ngừng đập.

Tam chứng cushing trong tăng áp lực nội sọ

Áp lực nội sọ xảy ra khi não, dịch não tủy và máu chèn ép bên trong hộp sọ. Sự gia tăng áp lực gây ra khi một thành phần đòi hỏi các thành phần khác phải phản ứng bù trừ để duy trì áp lực nội sọ trong phạm vi bình thường từ 0-15 mmHg.

Áp lực nội sọ sẽ thay đổi liên tục theo các hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Hít thở, nâng nhấc đồ đạc hay ho sẽ gây tăng áp lực nội sọ. Cơ thể có khả năng tự động điều chỉnh tăng áp lực nội sọ ở mức dưới 35 mmHg, với huyết áp tâm thu tương ứng trong khoảng 60-160 mmHg và áp lực tưới máu não trong khoảng 50-150 mmHg. Để duy trì áp lực nội sọ ở mức bình thường, dịch não tủy di chuyển giữa sọ và khoang dưới nhện, cùng với đó đường kính động mạch tiểu có khả năng thay đổi giúp cung cấp lưu lượng máu lên não đầy đủ.

Khi các thay đổi xảy ra tự nhiên, áp lực tưới máu não vẫn ở trong phạm vi bình thường. Nhưng nếu cơ thể không thể tự động điều chỉnh các áp lực tưới máu não, nồng độ carbon dioxide tăng lên sẽ làm cho các tiểu động mạch tự động bị giãn và áp suất bên trong thay đổi. Do đó dẫn đến các tĩnh mạch bị hẹp lại, và khó trở lại trạng thái ban đầu. Nếu không được điều trị, áp lực nội sọ sẽ tiếp tục tăng cho đến khi bằng với huyết áp tâm thu, và đến lúc này dòng máu não sẽ ngừng lại. Tình trạng này được gọi là co mạch máu não.

Các dấu hiệu sớm của tăng áp lực nội sọ bao gồm giảm mức độ ý thức, bồn chồn, khó chịu và lú lẫn. Khi các dấu hiệu liên tục tăng, khả năng ngôn ngữ, chuyển động tự nhiên, cảm giác và chuyển động ngoại bào sẽ chậm lại. Ngoài ra, trên điện tâm đồ sẽ xuất hiện thấy độ cao sóng T. Bệnh nhân chỉ có thể nói khi bị kích thích, không có cử động tự thân và chỉ phản xạ lại với những kích thích đau đớn. Khi áp lực tăng gần tủy, bệnh nhân có thể xuất hiện nôn dù không có cảm giác buồn nôn và rối loạn nhịp tim thay đổi từ nhịp nhanh trên thất đến nhịp tim chậm.

Tam chứng cushing trong tăng áp lực nội sọ

Khi tình trạng hôn mê nặng dần, phản ứng với các kích thích gây đau sẽ trở thành phản xạ và có thể biến mất hoàn toàn. Khi thoát vị não xảy ra sẽ dẫn đến mất vận động ngoại bào xảy ra, với các triệu chứng đồng tử giãn ra, không bình thường và hướng sang 2 bên.

Có thể áp dụng các phương pháp giúp ngăn chặn hoặc giảm tốc độ tăng áp lực nội sọ sau: nâng đầu một góc 30-45 độ, giữ cổ ở vị trí trung lập, duy trì nồng độ oxy và carbon dioxide bình thường, tránh tình trạng người bệnh thiếu nước, tránh thực hiện điều trị cụm nếu bệnh nhân đang mắc cúm, cho thở oxy dự phòng trước khi hút, tránh thực hiện các thao tác  Valsalva, duy trì nhiệt độ cơ thể bình thường, tránh các kích thích gây hại và lựa chọn các loại thuốc thích hợp.

Tóm lại, khi xảy ra tăng áp lực nội sọ, tam chứng Cushing xuất hiện bắt đầu với tăng huyết áp tâm thu, tăng hiệu áp, nhịp tim chậm lại và thở không đều. Nếu không được điều trị, nhịp tim sẽ tiếp tục tăng lên, hơi thở có dấu hiệu nông dần, xuất hiện các quãng ngưng thở và huyết áp bắt đầu giảm. Cuối cùng, bệnh nhân sẽ bắt đầu chuyển sang giai đoạn hấp hối. Khi thoát vị xuất hiện, hoạt động của thân não sẽ ngừng, tim ngừng đập và hô hấp dừng.

Tam chứng cushing trong tăng áp lực nội sọ
5 (100%) 1 vote[s]

Viết một bình luận